This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Chữa ho có đờm khò khè với thanh uyển

Thanh uyển thuộc họ Cúc, còn có tên gọi khác là tử uyển, dã ngưu bàng… Theo y học cổ truyền, thanh uyển vị đắng, ngọt, tính ôn không vào kinh phế. Tác dụng ôn phế tiêu đờm, nhuận phế hạ khí, cầm ho. Trị ho, suyễn, tiểu tiện đỏ, lao phổi, viêm phế quản, ho ra máu.

Là một cây thảo, sống lâu năm, cao 1 - 1,2m. Thân mọc thẳng, phân cành nhiều có lông thưa, cuống lá dài có rìa bên; lá phía trên mọc so le, nhỏ và hẹp hơn gần như không cuống. Hoa tự hình đầu xung quanh màu tía, tím nhạt, hoa ống ở giữa màu vàng. Quả bé có lông ngắn màu trắng. Cây mọc tự nhiên ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Bộ phận dùng làm thuốc của thanh uyển là rễ, thu hái quanh năm. Liều dùng hàng ngày 6 - 12g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Thanh uyển vị ngọt đắng có tác dụng trị ho, tiểu tiện đỏ...

Một số bài thuốc chữa bệnh từ thanh uyển

Chữa ho có đờm khò khè: Thanh uyển 12g, bách bộ 12g, cát cánh 8g, mạch môn 8g, kinh giới 8g, trần bì 6g, cam thảo dây 6g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 - 5 ngày.

Chữa viêm phế quản cấp tính: Thanh uyển 12g, hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, cam thảo 4g, tiền hồ 12g. Nếu đờm nhiều, rêu lưỡi trắng, thêm bán hạ 12g, trần bì 8g. Nếu có hen suyễn thì bỏ cát cánh, thêm ma hoàng 6g. Sắc uống ấm trong ngày chia 2 lần sau bữa ăn 1giờ rưỡi.

Chữa ho lâu ngày, viêm phế quản mạn tính: Thanh uyển 10g, khoản đông hoa 10g, thổ bốn mẫu 10g, hạnh nhân 10g, cát cánh 10g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang. 10 ngày là một liệu trình.

Chữa ho gà ở giai đoạn hồi phục: Thanh uyển 8g, bách bộ 8g, rễ quả lâu 16g, sa sâm 12g, mạch môn 12g. Sắc uống trong ngày.

Hỗ trợ điều trị hen phế quản: Thanh uyển 12g, tế tân 12g, khoản đông hoa 12g, đại táo 12g, ma hoàng 10g, ngũ vị tử 10g, bán hạ chế 8g, xạ can 6g, gừng sống 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể do phế hư: Thanh uyển 12g, ngũ vị tử, tang bạch bì, thục địa, đảng sâm, hoàng kỳ mỗi vị 10g. Sắc uống trong ngày.

Chữa sởi thời kì hồi phục: Sa sâm 10g, mạch đông 10g, thạch hộc 10g, ngọc trúc 10g, đậu ván 10g, thiên hoa phấn 10g, bách bộ 10g, thanh uyển 10g, thần khúc 10g. Các vị thuốc sắc 2 lần, lấy 2 nước trộn lại, dùng uống thay trà. Ngày 1 thang, chia uống sáng và chiều.

Bác sĩ Đức Quang




Xơ mướp chữa tắc tia sữa

Xơ mướp được lấy từ quả mướp chín thật già đã khô quắt, có vỏ ngoài nhăn nheo, màu vàng óng, cầm thấy nhẹ tay, đem ngâm vào nước nhiều lần cho tróc dần lớp vỏ ngoài và rữa nát hết lớp thịt còn sót lại ở trong, rửa sạch, rũ hết hạt, phơi khô.

Xơ mướp được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là ty qua lạc, có vị ngọt dịu, tính bình, có tác dụng cầm máu, thông kinh lạc, chống co thắt, thúc sởi, lợi tiểu. Dược liệu được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa trĩ ra máu, rong kinh, băng huyết, kiết lỵ ra máu: xơ mướp đốt tồn tính, tán bột, uống mỗi ngày 4 - 8g chia làm 2 lần chiêu với nước ấm.

Chữa tắc tia sữa: xơ mướp 1 cái, gai bồ kết 10 cái, hành tươi hoặc phơi khô 1 củ. Tất cả băm nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 2 - 3 ngày. Kết hợp xoa nắn vú cho thông tia sữa.

Chữa hen: xơ mướp 20g băm nhỏ, sao; hạt đay quả dài 12g, giã giập, sao. Trộn đều, sắc uống lúc nóng. Ngày 2 lần. Dùng 2 - 3 ngày.

Chữa bế kinh: xơ mướp đốt tồn tính, tán nhỏ, trộn với tiết chim bồ câu trắng làm thành bánh rồi phơi khô, tán nhỏ. Mỗi lần uống 8g với rượu vào lúc đói (Nam dược thần hiệu).

Chữa sởi (làm sởi mọc nhanh và mọc đều, hạn chế các biến chứng): xơ mướp 20g, kinh giới 12g, bạch chỉ 12g, kim ngân 12g, cỏ mần trầu 8g, cam thảo nam 4g. Tất cả thái nhỏ, sao vàng, sắc uống làm 2 lần trong ngày.

DS. Đỗ Huy Bích

Kinh nghiệm trị chứng sa trực tràng

Chứng sa trực tràng Đông y gọi là “chứng thoát giang”. Nguyên nhân chủ yếu là do tỳ dương hư, làm trung khí hạ hãm, nguyên khí bị suy tổn, sự thăng giáng của dương khí thất thường mà sinh bệnh. Đối với người cao tuổi, nguyên khí bị suy tổn, đại tiện táo bón, khi đi đại tiện bị rặn nhiều, làm đại tràng sa xuống không co lên được. Đối với phụ nữ do khi sinh nở rặn quá nhiều hoặc sinh nhiều lần cũng là nguyên nhân thường thấy. Đối với trẻ em do khí tiên thiên bất túc, sau khi sinh nuôi dưỡng kém, ăn uống thất thường, làm tỳ vị tổn thương, chính khí bị suy kém hoặc mắc chứng kiết lỵ, tiêu chảy, khi đi đại tiện rặn nhiều mà mắc chứng thoát giang.

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bài thuốc kinh nghiệm điều trị chứng sa trực tràng để đồng nghiệp và bạn đọc tham khảo:

Bài thuốc “Bổ trung ích khí” nhưng với liều lượng khác gồm: hoàng kỳ 40g, (nguyên bản bài thuốc hoàng kỳ 12g) cam thảo (chích) 4g, nhân sâm 16g (nguyên bản nhân sâm 6g), đương qui 12g, trần bì 8g, thăng ma 40g (nguyên bản bài thuốc thăng ma 4g), sài hồ 12g (nguyên bản sài hồ 8g), bạch truật 16g (nguyên bản bạch truật 12g) nếu thay nhân sâm bằng đảng sâm cho liều gấp hai lần.

Để điều trị chứng sa trực tràng khi dùng bài “bổ trung ích khí” liều cao và tùy theo từng thể bệnh mà gia giảm trong bài thuốc có hai vị hoàng kỳ và thăng ma. Ví như khi xem mạch thấy dương khí quá hư suy, bệnh nặng, sức khỏe của bệnh nhân không được tốt, nên hoàng kỳ và thăng ma đều dùng liều cao 70g, bạch truật dùng 16g gia thêm ích trí nhân 12g, ngũ vị tử 12g, ô mai 5 quả để tăng thêm tác dụng thu liễm làm cho trực tràng co lên nhanh.

TTND. BS. Nguyễn Xuân Hướng

Dược thiện trị tàn nhang

Tàn nhang là một bệnh da liễu thuộc vùng mặt, hay gặp ở phụ nữ thời kỳ mang thai hoặc tiền mãn kinh và nam giới giai đoạn trung lão niên. Ngoài ra còn gặp ở những người bị bệnh gan mật và một số bệnh mạn tính khác. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây nên tàn nhang thường do tình chí bất toại, can khí uất kết, thận khí bất sung hoặc xung nhâm thất điều gây nên. Phương pháp trị liệu bằng ăn uống của Đông y cho rằng, những người bị tàn nhang cần trọng dụng những thực phẩm có công dụng thanh nhiệt lợi thấp và kiêng kỵ những đồ ăn thức uống có tính cay nóng. Dưới đây, xin giới thiệu một số món ăn - bài thuốc có công dụng phòng chống tàn nhang để bạn đọc tham khảo.

Bài 1: đan bì 10g, chi tử 10g, gạo tẻ 30g. Cách chế: đan bì và chi tử rửa sạch, sắc kỹ, lấy nước bỏ bã rồi cho gạo vào nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, dùng liên tục trong 10 ngày là một liệu trình. Công dụng: sơ can thanh nhiệt, hoạt huyết lợi thấp, làm cho vết tàn nhang tiêu thoái hoặc nhạt đi.

Bài 2: bạch linh 15g, hoài sơn 15g, đậu xanh 20g, gạo tẻ 60g. Cách chế: bạch linh và hoài sơn sấy khô, tán thành bột mịn; đậu xanh và gạo tẻ đem ninh thành cháo rồi cho bột bạch linh và hoài sơn vào, đun sôi một lát là được, chế thêm một chút đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: sơ can thanh nhiệt, dưỡng tâm an thần, thường dùng cho những người bị tàn nhang do suy nhược thần kinh, ăn kém, mất ngủ thường xuyên.

Bài 3: sinh địa 15g, huyền sâm 10g, chi tử 10g, liên nhục 30g. Cách chế: sinh địa và huyền sâm rửa sạch sắc kỹ, lấy nước bỏ bã rồi cho chi tử và liên nhục vào ninh nhừ, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: tư âm thanh nhiệt, ích can bổ thận, thường dùng cho những người bị tàn nhang thuộc thể âm hư biểu hiện bằng các chứng trạng như người gầy, hay hoa mắt chóng mặt, miệng khô họng khát, có cảm giác bốc hỏa hoặc sốt nóng về chiều, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chất lưỡi đỏ, không hoặc ít rêu...

Bài 4: dưa chuột tươi 100g, hoài sơn tươi (củ mài) 100g. Cách chế: dưa chuột rửa sạch gọt vỏ, bỏ ruột thái miếng; hoài sơn rửa sạch gọt vỏ, thái miếng; hai thứ cho vào nồi hầm nhừ, chế thêm một chút đường, dùng làm đồ điểm tâm hàng ngày. Công dụng: thanh nhiệt dưỡng âm, kiện tỳ bổ thận, trừ ban.

Bài 5: đậu đen 60g, ích mẫu thảo 30g. Cách chế: hai thứ cho vào nồi, đổ 3 bát nước, sắc còn 1 bát, bỏ bã, chế thêm một chút đường đỏ và 1 - 2 thìa rượu gạo, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: dưỡng âm, hoạt huyết, bổ huyết, điều kinh, trừ ban.

Cần chú ý ăn nhiều hoa quả tươi như lê tươi, táo, quýt, na, nho, chanh, cam, chuối chín... và các loại rau xanh. Kiêng ăn các thức ăn có tính kích thích như hành tỏi, gừng, quế, hồi, hạt tiêu, ớt... và các thức ăn chiên xào, quay nướng như gà quay, vịt quay, thịt hun khói, thịt nướng... Đặc biệt, cần kiêng tuyệt đối rượu và thuốc lá.

ThS. Hoàng Khánh Toàn




Bài thuốc trị mụn nhọt mùa hè

Mụn là bệnh do nang lông - tuyến bã ở da hoạt động thái quá làm tiết nhiều bã nhờn trong khi miệng nang lông lại bị bít kín do tăng sừng hóa, chất bã nhờn bị ứ đọng lại ở lỗ chân lông tạo thành nhân mụn. Khi nhân mụn hình thành, thường có sự phát triển, tăng sinh một loại vi khuẩn ở lỗ chân lông gây nên tình trạng viêm đỏ của mụn mủ.

Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây ra mụn nhọt là do hỏa độc gây ra, một số trường hợp hay tái phát do tình trạng nhiễm trùng mà y học cổ truyền gọi là nhiệt huyết.

Tùy từng thể bệnh mà dùng bài thuốc điều trị như sau:

Giai đoạn viêm nhiễm (khởi phát)

Biểu hiện: Mụn nhỏ hình thành, ngứa, nóng, muốn gãi, giai đoạn này dùng phương pháp thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm.

Bài thuốc: kinh giới 8g, kim ngân hoa 20g, kê đầu ngựa 16g, thổ phục linh 12g, đỗ đen sao 40g, cam thảo dây 8g, vòi voi 12g, cỏ xước 12g, cho 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Theo y học cổ truyền, mụn nhọt là do hoả độc gây ra.

Theo y học cổ truyền, mụn nhọt là do hoả độc gây ra.

Giai đoạn hóa mủ

Biểu hiện: Mụn sưng tấy thành nhọt bọc có mủ, nóng, đỏ, sốt. Dùng phương pháp thác độc bài nùng (đưa độc ra ngoài, trừ mủ).

kim ngân hoa

Kim ngân hoa

Bài thuốc: kim ngân hoa 20g, liên kiều 12g, hoàng cầm 12g, gai bồ kết (tạo giác) 12g, bồ công anh 16g, trần bì 6g, bối mẫu 8g, cam thảo 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Giai đoạn vỡ mủ

Dùng phương pháp khử hư sinh cơ (làm mất các tổ chức hoại tử, làm liền da).

Bài thuốc: uất kim 16g, đương quy 12g, hoàng kỳ 16g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, đan bì 8g, đảng sâm 16g, kim ngân hoa 16g, cam thảo 6g. Cho 75ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Giai đoạn vỡ mủ phải thường xuyên rửa sạch, lau khô bằng gạc vô khuẩn để tránh tái nhiễm, nhiễm khuẩn.

Lương y Vũ Trung

Y học cổ truyền điều trị mụn trứng cá

Mùa hè đến cũng là lúc mụn trứng cá có điều kiện phát triển. Trong môi trường nóng ẩm các tuyến ở da tăng cường bài tiết nhiều mồ hôi và chất bã nhờn dễ làm tắc lỗ chân lông khiến lượng chất bã nhờn không thoát ra ngoài mà tích tụ tạo thành nhân mụn.

Nhiều chị em có thói quen thoa kem chống nắng hoặc một số mỹ phẩm không cẩn thận có thể làm tắc lỗ chân lông làm mụn trứng cá nặng lên.

Y học cổ truyền cho rằng mụn trứng cá phần lớn do phong nhiệt nung nấu, kết tụ ở phế kinh, phát ra ở mặt mũi; Hoặc do ăn quá nhiều chất cay nóng, dầu mỡ sinh ra thấp nhiệt, tràng vị không giáng được mà lại nghịch lên; Hoặc do Tỳ vận hóa kém, thấp ngưng kết lâu ngày hóa đàm hóa nhiệt ngưng trệ ở bì phu. Đặc biệt ở tuổi dậy thì nhiệt thịnh, hợp với đàm, nhiệt độc uất kết ở bì phu gây nên bệnh.

Kim ngân hoa.

Y học cổ truyền chia mụn trứng cá theo các thể:

Thể phế kinh phong nhiệt

Biểu hiện của bệnh thường là mụn trứng cá nóng, đỏ, hoặc sưng đau, có mụn mủ, hơi ngứa, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch tế sác hoặc phù sác.

Điều trị theo phương pháp sơ phong tuyên phế, thanh nhiệt giải độc.

Bài thuốc tỳ bà thanh phế ẩm, thành phần gồm tỳ bà diệp 12g, đảng sâm 12g, hoàng liên 6g, tang bạch bì 12g, hoàng bá 6g, cam thảo 06g.

Thể trường vị thấp nhiệt

Bệnh thường có biểu hiện: da trơn nhầy, nổi sẩn có mụn mủ kèm táo bón, tiểu vàng đậm, chán ăn, bụng đầy, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Phương pháp điều trị: thanh trường hóa thấp, thông phủ tiết nhiệt.

Bài thuốc nhân trần cao thang gia giảm. Thành phần gồm xa tiền 12g, xích thược 10g, chi tử 10g, hoàng cầm 10g, hoàng bá 10g, đại hoàng 4g, cam thảo 6g.

Thể tỳ hư không kiện vận

Bệnh có biểu hiện: kéo dài, sắc da xám, kém tươi nhuận, bệnh tái phát nhiều lần, có cục hoặc bọc mủ, mệt mỏi, chán ăn, đại tiện lỏng, lưỡi bệu, rêu trắng, mạch nhu hoạt.

Điều trị theo phương pháp kiện tỳ hóa thấp. Bài thuốc sâm linh bạch truật tán. Thành phần gồm có đảng sâm 12g, hoài sơn 12g, bạch linh 12g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, liên nhục 10g, ý dĩ 12g, sa nhân 8g, bạch biển đậu 8g, cát cánh 8g.

Thể can uất huyết ứ

Thường có biểu hiện: người hay bực tức dễ nổi nóng, có nhiều loại mụn kết lại thành đám hoặc những vết sẹo hay vết thâm sau khi hết mụn, lưỡi thâm, rêu mỏng, mạch hoạt sác hoặc huyền sác.

Phương pháp điều trị hoạt huyết hóa ứ, sơ can giải uất. Thường dùng bài thuốc tứ vật đào hồng gia giảm. Thành phần gồm có thục địa 12g, xích thược 12g, đương quy 12g, xuyên khung 10g, đào nhân 10g, hồng hoa 8g, đan bì 12g, uất kim 10g, chi tử 10g, sài hồ 12g.

Ngoài thuốc uống có thể kết hợp các phương pháp dùng ngoài đơn giản như:

- Kim ngân, liên kiều, bồ công anh mỗi vị 30g sắc lấy nước dùng xoa rửa tại chỗ ngày 3-4 lần.

- Đại hoàng, hoàng bá, hoàng cầm mỗi thứ 50g (tán bột), lưu huỳnh 15g (hòa tan bằng cồn 75 độ) hòa vào 500 ml nước sôi để nguội dùng xoa tại chỗ ngày 3-4 lần.

- Đại hoàng, lưu huỳnh hai thứ bằng nhau. Hai thứ thuốc này tán mịn, sau đó hòa với nước dùng xoa tại chỗ ngày 2 lần.

- Lấy 100g lá chè xanh tươi, rửa sạch rồi để ráo, giã nát lấy nước cốt bôi lên vùng da nhiều mụn.

- Rửa mặt hàng ngày bằng nước chè xanh.

TS.BS. CKII. Dương Trọng Nghĩa


Bài thuốc chữa chứng tân dịch hư tổn ở người cao tuổi

Chứng tân dịch hư tổn ở người cao tuổi do tuổi cao công năng của tạng phủ bị suy thoái làm cho sự sinh trưởng, phân bố, bài tiết của tân dịch không bình thường như: Khi tạng phế tân dịch kém thì phế mất chức năng tuyên giáng thường sinh các chứng: ho khan, suyễn thở, da khô, nước tiểu ít có màu đỏ.

Trường hợp tân dịch của tỳ bị hao tổn thì tỳ mất chức năng kiện vận sinh chứng bụng hay trướng đầy mà đau, chân tay rã rời có khi bị tê liệt. Đại tiện táo, lưỡi khô, khát nước. Nếu do thận khí không đủ để sưởi ấm phế và tỳ, làm tân dịch bốc hơi, dẫn đến sự khí hóa trong cơ thể không bình thường mà sinh ra chứng hoa mắt, chóng mặt, tim hồi hộp, lưng gối mềm yếu. Do tân dịch của người cao tuổi bị hư tổn, việc khai thông của tam tiêu bị yếu kém, làm cho sự lưu thông của khí huyết bị bế tắc, sự bài tiết không thuận lợi mà sinh ra chứng tự ra mồ hôi, miệng khô, tiểu tiện lượng ít mà đỏ. Còn một nguyên nhân nữa là người cao tuổi là khi tân dịch bị hao tổn thì sinh ra chứng huyết hư làm tim hồi hộp, hoa mắt, tai ù. Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số bài thuốc điều trị tùy thể để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần.

Vị thuốc hậu phác kiện tỳ vị.

Tân dịch hư tổn làm dương minh nhiệt kết

Triệu chứng: Sốt từng cơn, hai mắt kém con ngươi khó chịu, bụng trướng đầy, ra nhiều mồ hôi, đại tiện phân rắn, mạch trầm thực.

Bài thuốc: Đại thừa khí thang: Đại hoàng 12g, chỉ thực 8g, mang tiêu 8g, hậu phác 8g.

Cách dùng: Sắc uống. Chú ý: Uống một thang mà bệnh hết thì không uống thang thứ hai.

Tân dịch hư tổn làm nguyên khí tổn thương

Triệu chứng: Bệnh nhân phiền khát, buồn nôn. Phép trị: Ích tâm khí, thanh huyết nhiệt

Bài thuốc: Trúc diệp thạch cao thang. Trúc diệp 12g, thạch cao 16g, nhân sâm 8g, cánh mễ (lúa để lâu năm) 12g, bán hạ (chế) 12g, mạch môn 8g, cam thảo 4g.

Cách dùng: Ngày uống 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn.

Tân dịch hư tổn ôn tà phạm phế

Triệu chứng: Sốt cao, mũi khô, họng ráo, ho khan, khát nước. Phép trị: Nhuận phế chỉ ho tiêu khát.

Bài thuốc: Tang hạnh thang gia giảm: Tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, xuyên bối mấu 6g, lê bì 8g, hạnh nhân 8g, đạm đậu xị 8g, chi tử 6g.

Cách dùng: Sắc uống. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần trước khi ăn.

Do mắc chứng táo tà nặng làm tân dịch của phế hư tổn

Triệu chứng: Sốt cao, ho khan không có đờm, suyễn thở miệng mũi khô ráo, khát nước.

Bài thuốc: Thanh táo cứu phế thang: Thanh cao 12g, tang diệp 12g, nhân sâm 6g, hạnh nhân 6g, cam thảo 4g, hỏa ma nhân (hạt đay)12g, a giao 8g, mạch môn 8g, tỳ bà diệp 1 lá. Cách dùng: Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần trước khi ăn.

Do táo nhiệt lưu luyến ở phế làm tân dịch của phế hư tổn mà sinh bệnh

Triệu chứng: Sốt cao, miệng khát, họng khô, ho khan không có đờm, chất lưỡi đỏ ít rêu.

Bài thuốc: Sa sâm mạch đông thang. Sâm 12g, mạch môn 12g, ngọc trúc 8g, cam thảo 4g, thiên hoa phấn 8g, bạch biển đậu 8g, tang diệp 6g.

Cách dùng: Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần trong ngày uống trước khi ăn.

Tỳ vị nhiệt làm tổn hư tân dịch

Triệu chứng: Sốt cao nhưng không rét, ra mồ hôi, mặt và mắt đỏ, nước tiểu vàng đỏ, đại tiện bí kết, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi khô, mạch hồng sác

Bài thuốc: Điều vị thừa khí thang. Đại hoàng 16g, cam thảo 8g, mang tiêu 20g.

Cách dùng: Ngày uống 1 thang, sắc một lần lấy 150ml. Uống lần thứ nhất đại tiện được thì không uống lần thứ hai, nếu chưa đại tiện được thì uống lần thứ hai, hoặc lần thứ 3 cho đến khi đại tiện được thì không được uống nữa.

Tân dịch hư tổn sinh chứng huyết nhiệt

Triệu chứng: Sốt cao, hôn mê nói sảng, miệng mũi xuất huyết, họng khô, tai điếc, phát ban, lưỡi khô chất lưỡi đỏ.

Bài thuốc: Thanh doanh thang gia đan bì bạch thược: Sinh địa 12g, huyền sâm 12g, hoàng liên 6g, liên kiều 8g, trúc diệp tâm (đọt tre non) 6g, mạch môn 12g, đan sâm 12g, kim ngân hoa 12g, đan bì 8g, bạch thược 12g.

Cách dùng: Sắc uống. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn.

BS. Nguyễn Xuân Hướng